Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

9 loại thực phẩm tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ

Trẻ còn nhỏ rất hay mắc những bệnh về tiêu hóa. Khi đó các mẹ không khỏi băn khoăn trong cách chữa trị và phòng bệnh cho con. Dưới đây là những loại thực phẩm tốt cho đường tiêu hóa của trẻ nhỏ.

1. Gừng – chữa đầy hơi, khó tiêu

Gừng từ lâu đã được đánh giá cao vì khả năng điều trị các vấn đề khác nhau của đường tiêu hóa. Gừng có thể chữa trị một cách hiệu quả các vấn đề như: đầy hơi và trướng bụng, khó tiêu, co thắt dạ dày và buồn nôn hoặc ốm nghén.
Gừng cũng có đặc tính kháng viêm và kháng khuẩn mạnh mẽ có thể hỗ trợ sức khỏe đường tiêu hóa.
2. Bạc hà cay – dùng để điều trị các bệnh về tiêu hóa
Loại thảo mộc này cũng được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị các bệnh tiêu hóa khác nhau. Tính làm mát của nó có thể giúp làm dịu xuống một số rối loạn dạ dày và thúc đẩy chữa bệnh đường tiêu hóa. Nó cũng có đặc tính chống viêm và khử trùng.
3. Sữa chua – giảm tiêu chảy, táo bón
Do có hàm lượng probiotic cao, sữa chua là một trong những thực phẩm tốt nhất cho việc nâng cao hiệu quả và sức khỏe của hệ tiêu hóa.
Ăn sữa chua sẽ giúp cơ thể bạn tiêu hóa hiệu quả hơn và nó có thể làm giảm nguy cơ tiêu chảy, táo bón và chứng khó tiêu. Nó cũng có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch.
4. Khoai lang – chữa chứng viêm loét dạ dày, tá tràng
Khoai lang chứa lượng vitamin, khoáng chất, chất xơ và carbohydrate cao. Do đó, nó là một lựa chọn tuyệt vời hệ tiêu hóa. Khoai lang được biết đến với khả năng chữa chứng viêm loét dạ dày, tá tràng và có thể giúp ngăn ngừa các gốc tự do.
5. Quả bơ – duy trì các chức năng tối ưu của đường tiêu hóa
Quả bơ rất giàu chất xơ và chất béo không bão hòa đơn lành mạnh, rất tốt trong việc duy trì các chức năng tối ưu của đường tiêu hóa cũng như túi mật, tuyến tụy và gan. Nó cũng giúp chuyển đổi beta-carotene thành vitamin A rất cần thiết cho niêm mạc lót của toàn bộ đường tiêu hóa
6.  Yến mạch – giúp hệ tiêu hóa khỏe
Chất xơ rất quan trọng đối với sức khỏe tiêu hóa vì nó giúp vận chuyển thức ăn và ngăn ngừa táo bón. Yến mạch là một trong những nguồn tự nhiên tốt nhất của chất xơ, cũng như hàm lượng vitamin và khoáng chất phong phú giúp cải thiện sức khỏe tổng thể của cơ thể.
7. Dầu gan cá tuyết – giảm viên và tăng cường hệ miễn dịch
Đây là một nguồn giàu các axit béo omega-3 cũng như vitamin A và D làm giảm viêm đường tiêu hóa và tăng cường hệ miễn dịch. Dầu gan cá tuyết đặc biệt có hiệu quả trong việc điều trị bệnh viêm ruột.
8. Táo – giúp giảm nguy cơ táo bón
Táo có chứa cả chất xơ hòa tan và không hòa tan. Táo sẽ giúp giảm nguy cơ táo bón và cũng là một nguồn giàu vitamin và khoáng chất để cải thiện sức khỏe tổng thể.
9. Chuối
Hiện tượng tiêu chảy xảy ra làm mất cân bằng chất điện phân. Khi đó chuối trở thành loại trái cây giải cứu bạn vì chúng chứa nhiều kali cung cấp chất điện phân cho cơ thể.
Hơn thế nữa, chuối còn có tác dụng hấp thụ các chất lỏng dư thừa trong bao tử khi tiêu chảy đồng thời khôi phục lại một số vi khuẩn có ích cho dạ dày. Chuối còn chứa một số chất làm giảm căng thẳng và mệt mỏi. Vì vậy mỗi khi bị rối loạn tiêu hoá hay tiêu chảy chuối trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Những điều cần biết khi chăm sóc da cho trẻ

Chăm sóc làn da của bé là việc không phải mẹ nào cũng quan tâm kĩ lưỡng. Vì hầu hết nhiều mẹ thường để tâm đến những cơ quan như tai mũi họng hơn. Nhưng nếu không hiểu kĩ về làn da bé có thể mắc một số bệnh về viêm da đấy!

1. Bé sơ sinh có làn da nổi nhiều mụn sữa

Làn da của trẻ sơ sinh rất dễ mọc mụn, khoảng 30 – 40% bé mới sinh bị mọc mụn sữa. Các nốt mụn này có màu trắng, cứng giống như ngọc trai và có kích thước nhỏ bằng một nốt tàn nhang nhỏ. Mụn sữa thường được tìm thấy rải rác trên khuôn mặt, đặc biệt là vùng má, mũi, xung quanh mắt hoặc có thể sẽ lan rộng hơn trên da đầu, và trên khắp cơ thể của bé. Mụn sữa không nguy hiểm, thường tự hết trong vài tuần, cũng có thể đến vài tháng, nếu sau 3 tháng mụn vẫn chưa biến mất thì các mẹ nên nhớ đưa bé đi khám.
2. Da bé sơ sinh rất dễ cháy nắng
Trẻ sơ sinh không nhất thiết ngày nào cũng phải tắm bởi tắm quá nhiều sẽ gây tổn thương cho làn da mỏng và nhạy cảm của bé. Chính vì vậy, trong vài tuần đầu, mẹ chỉ cần làm sạch bé bằng cách vệ sinh mỗi lần thay tã, lau rửa tay chân, mặt mũi. Sau khi tắm xong, hãy lau khô hết nước dính trên người bé, nhất là những chỗ da gấp khúc như khuỷu tay, nách hay bẹn. Để đảm bảo cho bé không bị nhiễm lạnh thì sau mỗi lần tắm, mẹ nhớ dùng khăn tắm để ủ ấm bé.
3. Da bé sơ sinh mỏng như giấy
Da trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh rất mỏng manh, chỉ bằng 1/5 so với da người lớn. Với làn da mỏng này, mẹ thậm chí có thể nhìn thấy những mạch máu dưới da bé, nếu để ý mẹ có thể dùng cách này để đo thân nhiệt và tâm trạng của bé. Lúc bé giận, khóc hay nóng, da sẽ ửng đỏ lên. Còn khi lạnh, bàn chân và bàn tay bé sẽ hơi xanh tái, lúc này hãy ôm bé vào lòng ủ ấm và mặc thêm áo cho bé.
Da mỏng, cấu trúc chưa ổn định nên dễ bị tổn thương, dị ứng và nhiễm trùng. Hơn 90% các bệnh về viêm da ở trẻ sơ sinh là do vi khuẩn tấn công từ bên ngoài. Do đó các mẹ cần lưu giữ vệ sinh da bé sạch sẽ và giữ thoáng mát.
4. Bé sơ sinh không cần tắm hàng ngày
Trẻ sơ sinh không nhất thiết ngày nào cũng phải tắm bởi tắm quá nhiều sẽ gây tổn thương cho làn da mỏng và nhạy cảm của bé. Chính vì vậy, trong vài tuần đầu, mẹ chỉ cần làm sạch bé bằng cách vệ sinh mỗi lần thay tã, lau rửa tay chân, mặt mũi. Sau khi tắm xong, hãy lau khô hết nước dính trên người bé, nhất là những chỗ da gấp khúc như khuỷu tay, nách hay bẹn. Để đảm bảo cho bé không bị nhiễm lạnh thì sau mỗi lần tắm, mẹ nhớ dùng khăn tắm để ủ ấm bé.
5. Tiếp xúc da rất tốt cho bé
Trẻ sơ sinh mới chào đời được tiếp xúc với làn  da của mẹ  là một điều vô cùng  tốt. Đây là cách để trẻ có thể cảm nhận được hơi ấm từ cơ thể mẹ và giúp  bé phân  biệt  được mẹ với những người khác.  Thể hiện tình yêu với bé con qua những cái ôm trìu mến là món quà tuyệt vời nhất mẹ dành tặng bé mỗi ngày. Mẹ có thể thực hiện các bài mát – xa  tay, chân, bụng giúp bé cảm thấy dễ chịu và tăng tình cảm mẹ con.

Một số thực phẩm bà bầu nên tránh

Thời kì mang thai là thời kì đầu tiên hình thành sự phát triển của con. Trong thời gian này mẹ bầu cần bồi bổ, chăm sóc bản thân chu đáo và tránh sử dụng các nguồn thực phẩm dưới đây:


Nước trái cây chưa được tiệt trùng

Trái cây và rau xanh là nguồn thực phẩm khuyến khích mẹ bầu sử dụng. Bởi rau xanh và trái cây cung cấp một lượng vitamin cũng như canxi dồi dào tốt cho sức khoẻ mẹ bầu và sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên mẹ bầu nên tránh xa nước (như rượu táo) bán tại trang trại đứng, nó có thể không trải qua thanh trùng, một phương pháp xử lý có thể tiêu diệt vi khuẩn và độc tố. Mặc dù phần lớn sữa và nước trái cây bán trong các cửa hàng siêu thị đều được tiệt trùng, vẫn còn một số thương hiệu có trong trong các cửa hàng chưa qua tiệt trùng như vậy sẽ không tốt cho phụ nữ mang thai.

Trứng sống

Trứng là món ăn khuyến khích mẹ bầu sử dụng để giúp thai nhi sau này cao lớn và thông minh hơn. Nhưng mẹ bầu tuyệt đối không nên ăn trứng còn lòng đào, chưa chín kỹ. Do trứng sống có thể bị nhiễm khuẩn salmonella, một loại vi khuẩn có thể gây ra sốt, nôn mửa, tiêu chảy, … vì vậy các thực phẩm từ trứng hay sử dụng trứng để chế biến như: bột bánh thô, trứng ốp lết còn chưa chín hẳn hoặc bất kỳ món ăn trong đó những quả trứng (cả lòng đỏ và trắng) không được nấu chín hoàn toàn.

Sushi

Với, sushi là không an toàn khi bạn đang mang thai, bởi vì nó có thể chứa ký sinh trùng gây bệnh cho thai. Sushi được làm từ các loại cá sống không thể tiệt trùng hoàn toàn.

Một số giống cá

Cá có axit béo omega-3 giúp phát triển não bộ của bé, là một lựa chọn bữa ăn tuyệt vời cho phụ nữ mang thai. Nhưng một số giống cá chị em nên tránh do mức độ cao của thủy ngân, một chất gây ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh của em bé. Chúng bao gồm cá kiếm, cá mập, và cá kình… tích lũy thủy ngân nhiều hơn trong thịt của chúng. Thủy ngân còn có thể khiến bạn có nguy cơ sinh non. Bởi vậy mà mẹ bầu cần cảnh giác hơn trong việc lựa chọn và chế biến món ăn để có một sức khoẻ tốt cho sự phát triển tốt của thai nhi nhé!

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Những căn bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa hè

Khí hậu mùa hè nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện tốt để mầm bệnh sinh sôi nảy nở. Vậy tại sao mùa hè lại là thời điểm bùng phát bệnh của trẻ và một số bệnh cần lưu tâm trong mùa hè là gì?

Mùa hè là lúc mầm bệnh bùng phát
Một mùa xuân mưa phùn ẩm ướt dù là thời điểm để vi trùng vi khuẩn và các mầm bệnh sinh sôi nhưng nhiệt độ thấp khiến chúng không thể bùng phát được. Tới mùa hè, mặc dù nóng nhưng độ ẩm cao, mầm bệnh có cơ hội trỗi dậy và tấn công các đối tượng có sức đề kháng kém như trẻ em, người già và người mới ốm dậy.
Thời tiết nóng ẩm mang tới cảm giác khó chịu và mệt mỏi cho con người. Cơ thể dễ bị mất nước, khiến cho khả năng miễn dịch của cơ thể giảm sút, tạo điều kiện cho bệnh tật tấn công. Nhất là trẻ em không thể chủ động bổ sung nước. Vì vậy mà cơ thể của trẻ dễ mầm bệnh tấn công hơn.
Và cuối cùng là ánh nắng mặt trời gay gắt đe dọa sức khỏe của người già và trẻ nhỏ vì khả năng tự bảo vệ của họ rất yếu.
Một số bệnh trẻ nhỏ vào mùa hè
Viêm não Nhật Bản B
Viêm não Nhật bản B là một bệnh nhiễm khuẩn thần kinh xuất hiện vào mùa hè do một loại vi-rút Arbo nhóm B gây nên. Bệnh thường để lại di chứng thần kinh nặng nề và có tỉ lệ tử vong khá cao.
Để phòng ngừa bệnh ba mẹ cần phải giữ môi trường trong sạch, nhà ở thoáng mát, luôn buông màn khi ngủ, phun thuốc diệt muỗi và côn trùng, đặc biệt là tiêm phòng vắc-xin viêm não Nhật Bản cho trẻ đúng lịch.
Viêm màng não mủ
Viêm màng não thường xuất hiện vào mùa hè với các biểu hiện lâm sàng đa dạng, tùy thuộc vào độ tuổi. Khi bắt đầu  bị bệnh, trẻ có các biểu hiện như sốt cao, sổ mũi, ho, tiêu chảy, quấy khóc và nôn trớ. Một số trẻ khác lại xuất hiện các dấu hiệu rối loạn thị giác như trẻ quấy khóc, ánh mắt nhìn vô cảm.
Bệnh dễ gây nhầm lẫn với viêm họng, viêm phổi hoặc tiêu chảy khiến cho ba mẹ rất khó phát hiện trẻ bị viêm màng não mủ. Tuy nhiên, bệnh hoàn toàn có thể điều trị được ở giai đoạn sớm. Vì thế, khi trẻ có bất cứ một dấu hiệu bệnh lý nào (dù chỉ là ho, sốt, chảy mũi) cha mẹ cũng cần đưa trẻ đi khám để loại trừ trường hợp trẻ bị viêm màng não mủ.
Bệnh tiêu chảy
Mặc dù có thể xuất hiện quanh năm nhưng trẻ dễ bị tiêu chảy nhất vào mùa hè vì thời tiết mùa hè làm ruồi nhặng và ký sinh trùng phát triển mạnh mẽ.
Một số triệu chứng nổi bật khi trẻ bị tiêu chảy như: trẻ đi đại tiện từ 3 – 5 lần / ngày cho tới vài chục lần/ngày, đi kèm với đau bụng từng cơn hay liên tục, đau quanh hậu môn và cảm thấy buồn nôn hay nôn.
Tiêu chảy lâu khiến trẻ bị mất nước, chuột rút, lúc đó, mẹ cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế gần nhất để chữa trị kịp thời, tránh để cho bệnh chuyển nặng, đe dọa tới tính mạng do mất nước hoặc trụy tim đột ngột.
Ngoài ba căn bệnh trên, bé yêu của mẹ còn có thể dễ bị tấn công bởi các bệnh khác như tay chân miệng, sốt vi-rút… Vì vậy, mẹ nhớ chăm sóc bé cẩn thận, vệ sinh và ăn uống đảm bảo để tăng cường khả năng miễn dịch trước sự thay đổi của thời tiết cho bé yêu mạnh khỏe và lớn nhanh.

Những mầm bệnh trong ngôi nhà của bạn

Trẻ còn nhỏ, sức đề kháng yếu nên rất dễ dàng bị nhiễm bệnh. Đồ vật nào cũng có thể ẩn chứa ổ vi khuẩn làm hại đến sức khỏe của bé bất kỳ lúc nào. 

1. Nhà vệ sinh

Nhà vệ sinh là nơi đầu tiên mà tất cả chúng ta đề nghĩ ngay đến. Những nơi như bồn cầu, vòi hoa sen là những nơi cực bẩn trong nhà. Đôi khi nhìn vẻ bề ngoài bóng loáng của chúng cha mẹ thường lầm tưởng là sạch nhưng sự thật chứa đến 189 loại vi khuẩn. Trên thực tế, không phải phụ huynh có con nhỏ nào cũng biết được tác hại của vi khuẩn từ bồn cầu và cách vệ sinh đúng cách. Rất nhiều cha mẹ cho rằng, vệ sinh bồn cầu chỉ cần bằng bột giặt là đủ.
Khuẩn E.Coli, tác nhân gây bệnh tiêu chảy vẫn có thể tồn tại trong những toilet được cọ rửa thường xuyên nhưng không phải bằng chất tẩy rửa chuyên dụng.
2. Đồ chơi
Các bé rất hay ngậm đồ chơi trong miệng rồi làm rớt xuống sàn, sau đó nhặt lên rồi lại cho vào miệng. Như vậy, đồ chơi có thể tiếp xúc trực tiếp với cơ thể và các khí quan của bé nên rất dễ trở thành vật trung gian truyền mầm bệnh cho bé. Bạn cần thường xuyên lau chùi, làm sạch và đảm bảo trước khi bé tiếp xúc, đồ chơi đã được vệ sinh sạch sẽ. Một gợi ý nhỏ là pha loãng các dung dịch tẩy rửa chuyên dụng rồi dùng để rửa đồ chơi cho bé, sau đó rửa lại thật kỹ bằng nước sạch, như vậy sẽ loại bỏ mọi vi khuẩn gây hại.
3. Thú bông
Các bé rất thích thú nhồi bông và thường xuyên ôm ấp, nựng nịu loại đồ chơi này suốt cả ngày, kể cả khi đi ngủ, nhưng đây cũng là nơi trú ngụ của các loại bụi bẩn, vi khuẩn, vi trùng. Các sợi bông trên thú nhồi bông cũng có thể dính lên quần áo hoặc “chui” vào mũi bé gây ngứa ngáy, khó chịu. Để giữ cho thú nhồi bông của bé đảm bảo vệ sinh, ít nhất 3 tuần một lần bạn cần làm sạch chúng trong nước ấm và xà phòng, sau đó phơi dưới nắng to hoặc sấy khô trong 45 phút.
4. Thảm
be-choi-do-choi
Ảnh: Sưu tầm Internet
Thảm, đồ chơ hawy thú nhồi bông đều có nguy cơ nhiễm vi khuẩn
Thảm trải sàn trong phòng bé hoặc nơi bé hay chơi đùa dù làm bằng chất liệu gì cũng rất dễ là nơi trú ngụ lý tưởng của bụi bẩn và vi trùng, vi khuẩn. Nhưng đây cũng là nơi bé tiếp xúc nhiều lần trong ngày với tất cả các bộ phận, từ chân, tay, bụng, lưng, đầu cho đến mắt, mũi, tai…
Vì thế, mỗi lần thảm trải sàn bị đổ thức ăn hoặc dây bẩn trên bề mặt, bạn cần làm sạch ngay để vi khuẩn không có điều kiện sinh sôi và gây bệnh. Cũng cần hút bụi và làm sạch thảm 3 – 4 lần mỗi tuần để “đuổi” các tác nhân mang mầm bệnh cho bé nêu trên.

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Những kiêng kị mẹ nên biết khi cho trẻ uống sữa

Sữa có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Bất kì em bé nào cũng cần phải trải qua giai đoạn uống sữa. Tuy nhiên cho con uống sữa như nào cho đúng cách thì các mẹ cần phải tìm hiểu thêm. Bài viết sau đây sẽ liệt kê cho các mẹ những điều cấm kị khi cho con uống sữa.

1. Kết hợp cho bé uống sữa và ăn cháo


Bữa ăn cho bé hầu hết các mẹ thường cho con ăn cháo, sau đó uống thêm sữa để đầy đủ chất dinh dưỡng. Tuy nhiên việc này là hoàn toàn sai lầm, cần nhớ rằng sữa có nhiều vitamin A, còn trong nước cơm và cháo thành phần chủ yếu là tinh bột, khi kết hợp với nhau vitamin A sẽ bị triệt tiêu. Đối với trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh, thiếu vitamin A rất dễ gây suy nhược cơ thể, trí não chậm phát triển.
Do vậy, khi chăm con, cách tốt nhất là phân bố hợp lý giữa thời gian cho bé ăn cháo và uống sữa. Bạn nên đợi vài tiếng sau khi bé ăn cháo mới tiếp tục cho con uống sữa để cơ thể bé hấp thụ trọn vẹn các dưỡng chất từ hai nguồn thức ăn.

2. Cho bé uống sữa chống đói

Trong lúc chưa chuẩn bị kịp bữa cho con, chúng ta xoa dịu cho con bằng một cốc sữa lót dạ, nhưng khi bé quá đói, việc bạn đưa một lượng sữa lớn vào dạ dày sẽ làm dạ dày co bóp mạnh.
Dịch vị tiết ra sẽ đào thải nhanh calci xuống ruột và bài tiết ra bên ngoài. Hơn nữa, cơ thể bé lúc này sẽ cảm thấy mệt mỏi và buồn ngủ, cản trở các hoạt động vui chơi có lợi cho tiêu hóa.
Thời điểm cho con uống sữa vào cuối bữa ăn, hoặc sử dụng sữa như là một bữa ăn phụ cho con trong ngày, thời điểm mà bé chưa quá đói là lý tưởng nhất.

3. Cho nhiều đường vào sữa nóng

Thông thường 100ml sữa thêm 5-8g đường nhưng một số bé có khẩu vị thích uống sữa ngọt một chút nên khi pha sữa chúng ta thêm một ít đường cho con.
Tuy nhiên, quá nhiều đường dự trữ trong cơ thể ngoài nhân tố nguy hiểm gây ra các bệnh như: xơ cứng động mạch, cận thị, sâu răng thì chất lysine có trong sữa sẽ phản ứng với đường khi đun nóng, tạo thành chất không có lợi cho cơ thể của bé.
Do vậy bạn nên cho đường vào sữa ấm hoặc đã được để nguội là tốt nhất, nhiệt độ lý tưởng dao động từ 30-700C.

4. Uống sữa đặc

Bỏ mặc những hướng dẫn của nhà sản xuất, nhiều bà mẹ nghĩ rằng uống sữa càng đặc, con mình càng hấp thụ được nhiều dinh dưỡng nên có thể tăng giảm liều lượng tùy thích. Kì thực, độ đậm đặc của sữa phụ thuộc chủ yếu vào độ tuổi của bé.
Trẻ sơ sinh nếu dùng sữa quá đặc, lâu ngày sẽ dẫn đến các bệnh đau dạ dày, kiết lị, ăn không ngon… Nguyên nhân là do sữa càng đặc thì độ dinh dưỡng càng cao trong khi các cơ quan nội tạng của trẻ còn rất yếu, chưa thể hấp thụ một lượng thức ăn quá lớn cùng lúc.
Vì vậy, khi uống sữa nên chú ý độ tuổi của bé và pha theo đúng hướng dẫn trên nhãn sản phẩm.

5. Thêm socola vào sữa

Thật sai lầm nếu bạn muốn cho một chút socola vào trong cốc sữa của bé để tạo vị thơm. Nhiều nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng nếu bạn trộn sữa với socola, con sẽ chẳng thể hấp thụ calci có trong sữa vì canxi phản ứng hóa học với oxalate trong socola, tạo thành hợp chất canxi oxalate không hề có lợi cho con.
Không những thế, dùng thức uống này quá nhiều sẽ gây khô tóc, tiêu chảy và những phản ứng ngoài mong muốn khác của bé.

Tác hại của việc mẹ nêm món ăn quá mặn cho bé

Gia vị là thứ không thể thiếu trong mỗi bữa ăn, đặc biệt khi nấu cho trẻ. Gia vị như muối, mắm không chỉ tạo hương vị đặc trưng cho món ăn mà còn cung chấp những dưỡng chất cần thiết để bé phát triển khỏe mạnh.

Vị giác của trẻ khác người lớn nên trẻ càng nhỏ sẽ càng ăn nhạt hơn người lớn rất nhiều. Theo các chuyên gia về dinh dưỡng, thời điểm bắt đầu cho bé ăn dặm (6 tháng tuổi) không nên thêm muối hay gia vị khác. Sau 2 tháng khi trẻ được 8 tháng thì có thể nêm một ít mắm.

Tác hại khi mẹ nêm mắm muối quá mặn cho con

Khi trẻ được ăn thừa lượng muối thì lượng dư này sẽ được thải qua nước tiểu. Lượng muối quá nhiều sẽ là gánh nặng cho phần thận vẫn còn non nớt của trẻ khiến thận của trẻ phải làm việc “cật lực” hơn về lâu dài dễ đưa đến các bệnh về cao huyết áp, tổn hại thận, phù thũng, rối loạn nhịp tim,…
Đồng thời do ăn mặn nên lượng nước uống vào tăng, nếu vượt mức cần thiết thì tăng áp lực thẩm thấu vào máu, nước được tích giữ làm hại hệ tim mạch. Hàm lượng muối thừa cũng là nguyên nhân khiến trẻ béo phì.
Việc ăn nhiều muối cũng làm cho cơ thể kém hấp thu kẽm, gây nên tình trạng biếng ăn, khó ngủ và chậm lớn.
Ngoài ra, cũng có những bằng chứng cho thấy ăn nhiều muối trong giai đoạn ăn dặm sẽ gây tổn thương não bộ.

Nguyên tắc khi nêm mắm muối vào đồ ăn của con

Nêm gia vị vào món ăn cho bé
Ảnh minh họa
Nêm gia vị theo nhu cầu và lứa tuổi của trẻ
– Nêm nhạt so với khẩu vị của mẹ vì vị giác của bé còn rất nhạy. Nêm vừa miệng người lớn là quá mặn đối với bé
– Mắm muối cần được cho vào lúc thịt (cá, bột và cháo) đã chín và trước khi cho rau và dầu ăn.
– Nêm với lượng vừa đủ theo độ tuổi. Lượng muối, mắm chuẩn bé theo từng độ tuổi:
  • Bé 1-3 tuổi: 1,5g/ngày.
  • Bé 4-8 tuổi: 1,9g/ngày.
  • Bé 9-13 tuổi: 2,2g/ngày.
  • Bé 14-18 tuổi: 2,3g/ngày.